Nguồn gốc và loại cà phê

Coffea, một chi thực vật trong họ Rubiaceae (thiến thảo), là nguồn gốc hình thành của cây cà phê. Họ Rubiceae này bao gồm hơn 500 loại và 6,000 cây nhiệt đới. Một người bình thường sẽ ít khi nhận biết được đâu là cây cà phê cho dù hầu hết chúng ta đều biết hạt cà phê rang trông như thế nào. Trong trường hợp bạn gặp một cái cây và không biết nó có phải cây cà phê hay không, tôi sẽ chỉ bạn một số cách để nhận biết như sau:

  • Diện tích trồng trọt tương đối tiết kiệm, cành lá thường được cắt tỉa để tiện cho việc thu hoạch
    •Có khả năng phát triển cao hơn 30 feet (hơn 9 mét)
    •Tổng thể từ ngoài nhìn vào thì cây được bao quanh bởi rất nhiều lá, những lá này chủ yếu có màu xanh thẫm, bề mặt bóng, mọc đối diện nhau theo cặp, cũng có những giống cây cà phê cho ra lá màu tím hoặc vàng, có kích cỡ từ 1 – 40 cm.
    •Coffee cherries grow along the tree’s branches (see below for a description of coffee cherries) trái cà phê mọc theo nhánh cây
    •Coffee cherries bloom into flowering, fragrant, white blossoms after about a year Cây cà phê nở hoa màu trắng và toả hương sau khoảng 1 năm.
    •Vì cây phát triển liên tục nên ta có thể thấy cả hoa, trái chín và chưa chín trên cùng một cây là điều bình thường.

Lá cà phê

Một cây cà phê có thể sống đến 20 hoặc 30 năm. Chúng có thể phát triển trong nhiều vùng khí hậu, miễn là đừng quá khắc nghiệt (quá nóng hay quá lạnh). Cây phát triển tốt nhất ở nơi đất màu mỡ, nhiệt độ nhẹ, và mưa nắng thường xuyên. Nếu có tuyết dày hoặc rét đậm thì cây sẽ chết. Người ta ước tính có đến 25 đến 100 giống cây cà phê. Trong ngành thương mại cà phê, có 2 giống quan trọng, đó là: Arabicacà phê chèCanephora – cà phê vối (hay còn lại gọi là robusta).


Các loại của cà phê chè Arabica rất đa dạng, bao gồm:


  • Bourbon
    •Typica
    •Caturra
    •Mundo
    •Novo
    •Tico
    •San Ramon
    •Jamaican Blue Mountain

 

Lịch sử của những cây cà phê đầu tiên bắt nguồn từ các cao nguyên đồi núi trập trùng ở đất nước Ethiopia. Nơi có đất đai màu mỡ, nắng chan hoà và mưa vừa phải. Đúng và đủ các điều kiện để cà phê có thể phát triển tốt nhất. Hạt cà phê ở Ethiopia cho ra những ly café có màu nâu trong, có mùi thơm và vị rất dịu. Cà phê Arabica có giá thành cao nhất trong thị trường cà phê. Những loại Arabica chất lượng cao hơn thì được trồng ở những vùng địa lý cao hơn, khoảng 2000 – 6000 mét trên mực nước biển.

 

 

Gia phả cây cà phê.

 

Việc canh tác giống Arabica rất tốn kém bởi vì các nguyên nhân sau:


  • Địa hình canh tác thường dốc và đường vào rất khó khăn
    •Những cây này thường dễ bệnh và chết hơn cây robusta nên chúng cần nhiều sự quan tâm và chăm sóc hơn. Hạt của cây Arabica thường mỏng và dài hơn robusta, và cũng có độ caffeine thấp hơn.


Cà phê vối – hay còn gọi là robusta:

  • Cây cà phê robusta thường rất khoẻ, chúng có khả năng chống lại các loại sâu bọ phá hoại. Điều này làm cho việc canh tác robusta dễ dàng và ít tốn kém hơn rất nhiều. Cây robusta có thể sống được trong những điệu kiện khí hậu khắc nghiệt hơn Arabica và thường chịu được nhiệt độ cao hơn. Cây cần khoảng 60 inch mưa mỗi năm và cũng không sống được trong tuyết dày. Café từ hạt robusta có vị đặc biệt dễ nhận biết, và có hàm lượng caffeine cao hơn Arabica khoảng 50-60%.

Hầu hết cây robusta đều được trồng ở vùng trung tâm và phía Tây Châu Phi, một phần của Đông Nam Á, bao gồm Indonesia và Vietnam. Brazil cũng là một nước nổi tiếng trong việc canh tác robusta nhưng chỉ chiếm 30%  thị trường thế giới.

What does a “coffee cherry” look like? You will recognize a “coffee cherry” by the following characteristics: Vậy thì, trái cà phê trông như thế nào? Có các đặc điểm gì để có thể nhận ra trái cà phê không?
•Lớp vỏ phía bên ngoài của một trái cà phê được gọi là “exocarp”
•Ở dưới lớp “exocarp” là “mesocarp”, là lớp thịt trái mỏng
•Sau lớp “mesocarp” là một lớp nhầy có tên gọi “parenchyma”
•Hạt cà phê được bao quanh bởi một lớp vỏ trấu có tên gọi “endocarp”
• Hạt bên trong được bao bọc bởi một lớp mà người ta hay gọi là “silver skin” vỏ bạc